Slalom Build
Mạch tiến hoá
Nguồn đầu tiên của Slalom Build (công ty tư vấn) trong wiki là bài đề xuất kèm proof of concept năm 2016: "Lego monolith" gom nhiều bounded context vào một repo và một đơn vị deploy, ép ranh giới bằng phụ thuộc module Gradle, cho service nói chuyện qua REST hoặc queue. Theo tác giả, cách này cho phần lớn lợi ích của microservices mà không đòi trước các điều kiện như provisioning nhanh, monitoring cho tracing, CD và autoscale, và tách một service ra sau là việc dễ Slalom Build 2016. Năm 2018 họ mô tả kiến trúc nhiều tài khoản AWS đã làm cho Discover: tài khoản lõi tách đăng nhập và log, tài khoản team đồng nhất tạo bằng pipeline Slalom Build 2018. Năm 2017 họ trình bày ba mức quản lý secret và hai kiến trúc đã dựng cho khách, từ git-crypt cộng Chef Vault lên HashiCorp Vault Slalom Build 2017; năm 2019, bốn ca đưa test tự động ngoài unit test vào pipeline, trong đó rào cản chủ yếu là khả thi kỹ thuật nhỏ và kiến trúc không có module Slalom Build 2019.
Timeline
Năm = năm sự kiện theo bài (có thể sớm hơn năm đăng bài).
| Năm | Giai đoạn | Thay đổi | Nguồn |
|---|---|---|---|
| 2016 | 1. Khởi đầu | (Bài đề xuất, POC) Lego monolith: bounded context trong một repo và một deploy, module Gradle, REST/queue giữa service, datasource riêng. | Slalom Build 2016 |
| 2017 | 2. Tăng trưởng | Ba mức quản lý secret; hai kiến trúc cho khách: git-crypt + Jenkins + Chef Vault (làm mới quyền 5 phút/lần), rồi HashiCorp Vault với token lấy trước khi Chef chạy. | Slalom Build 2017 |
| 2018 | 2. Tăng trưởng | Kiến trúc nhiều tài khoản AWS cho khách hàng Discover: identity/logging/core, assume role, pipeline tạo tài khoản. | Slalom Build 2018 |
| 2019 | 2. Tăng trưởng | Bài quan điểm + bốn ca khách hàng: đưa test API/UI/tích hợp vào pipeline bằng runner gộp, Jenkins có Chrome, DB in-memory, refactor monolith desktop thành module. | Slalom Build 2019 |